Thư mời tham dự Khoá đào tạo "KỸ THUẬT SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG BẰNG TIẾNG ANH"

19:50 |

Nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao kiến thức và kỹ năng tiếng Anh chuyên ngành trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo BankPro liên tục tổ chức khoá học “Kỹ thuật soạn thảo Hợp đồng bằng tiếng Anh”, trân trọng kính mời Quý Đơn vị đăng ký tham dự.
Đối tượng: Cán bộ, nhân viên pháp chế, cán bộ quan hệ quốc tế của ngân hàng, doanh nghiệp; cán bộ quản lý rủi ro, chuyên viên tư vấn, giám sát thực hiện hợp đồng, lãnh đạo các ngân hàng, doanh nghiệp; các chuyên viên tư vấn của các Công ty Luật.
Phương pháp: Học theo phương pháp tương tác giữa người học và người dạy, làm nhiều bài tập thực hành để nắm vững và sử dụng được ngay những gì đã học. Ngôn ngữ sử dụng trên lớp học bằng tiếng Anh kết hợp với giải thích thuật ngữ bằng tiếng Việt để tạo thuận lợi cho học viên trong quá trình dịch hợp đồng.
Giáo trình: Theo giáo trình của đại học Oxford, kết hợp với những bài tập thực hành được biên soạn dựa trên các các mẫu hợp đồng thực tế. Ngoài tài liệu chương trình đã biên soạn sẵn, học viên có thể mang những mẫu hợp đồng thường gặp trong công việc của mình đến lớp để cùng thảo luận với các học viên khác và với giảng viên.
Giảng viên: Các chuyên gia pháp luật nước ngoài, có bản ngữ là tiếng Anh, am hiểu Pháp luật Việt Nam cũng như Pháp luật quốc tế; Trung tâm trọng tài Quốc tế VIAC, Đại học Ngoại thương có bề dày kinh nghiệm phân xử những tranh chấp thương mại trên cơ sở hợp đồng tiếng Anh (Sẽ cập nhật danh sách Giảng viên sau)
Nội dung: Vui lòng liên hệ để biết nội dung khoá học.
Thời gian: 
- Địa điểm tại Hà Nội
- Thời gian: 10 buổi, mỗi buổi 4 tiếng
- Chương trình bắt đầu từ 11/9/2015, mỗi tuần 01 buổi
- Các khoá học được liên tục tổ chức mỗi tháng, hạn đăng ký mùng 5 hàng tháng
Số lượng học viên: tối đa 20 học viên/lớp
Học phí: 7.600.000đ/1 ngư­ời
Vui lòng liên hệ:Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo BankPro
Anh Nguyễn Đức Cương, DĐ: 0984.779968 - Email: cuongvnba@gmail.com - ĐT: 04 38215392  -  Fax: 04 38215392

Thư mời Khóa đào tạo "Pháp luật hiện hành về Giao dịch bảo đảm, Xử lý tài sản bảo đảm và Thực tiễn giải quyết tranh chấp của TCTD theo những quy định mới" tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh

19:34 |
Thời gian vừa qua nhiều văn bản pháp luật mới về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản, doanh nghiệp, đầu tư, phá sản và chứng khoán đã được ban hành. Các văn bản này có tác động trực tiếp đến việc lựa chọn tài sản bảo đảm, ký kết hợp đồng và xử lý tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng. Khóa học sẽ tập trung  vào các vấn đề đang thu hút sự chú ý của các khối nghiệp vụ của các tổ chức tín dụng và giải quyết các vướng mắc phát sinh trong thực tế. Khóa học cũng sẽ giúp phân tích các ưu điểm và hạn chế của các quy định này, đồng thời đưa ra một số giải pháp giúp bảo vệ tốt nhất quyền lợi của các tổ chức tín dụng với tư cách là bên nhận bảo đảm và phòng ngừa một số rủi ro và tranh chấp có thể phát sinh về sau.
Xin trân trọng kính mời Quý Đơn vị đăng ký tham dự theo thông tin dưới đây:
1. Đối tượng tham dự: Lãnh đạo Phòng, Ban, Chi nhánh, chuyên viên nghiệp vụ tín dụng, thẩm định và xử lý nợ; cán bộ pháp chế và các cán bộ khác có liên quan tại các NHTM, Qũy Tín dụng Nhân dân, Công ty Tài chính, Công ty cho thuê tài chính, Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản và các doanh nghiệp.
2. Nội dung: Vui lòng liên hệ với chúng tôi.
3. Địa điểm: 
Tại Hà Nội: ngày 27, 28 & 29/8/2015
Tại TPHCM: ngày 03, 04 & 05/9/2015
4. Giảng viên: Thẩm phán Nguyễn Công Phú, Phó Chánh Tòa Kinh Tế, TAND TP.HCM, với hơn 25 năm kinh nghiệm xét xử; Tiến sỹ Luật Vũ Thị Hồng Yến, Phụ trách Bộ môn Luật dân sự, Đại học Luật Hà Nội; Tiến sỹ, Luật sư Bùi Đức Giang, Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC.
5. Học phí: 3.600.000đ/1 ngư­ời
Để biết thông tin vui lòng liên hệ: Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo BankPro,
Anh Nguyễn Đức Cương, DĐ: 0984.7799 68 - Email: cuongvnba@gmail.com - ĐT: 04 38215392  -  Fax: 04 38215392 

Tác động của Luật Doanh nghiệp trong việc cho vay và nhận tài sản bảo đảm của Ngân hàng Thương mại

20:34 |








(TBKTSG) - Chỉ còn vài ngày nữa là Luật Doanh nghiệp 2014 sẽ chính thức có hiệu lực. Có khá nhiều quy định mới trong văn bản này sẽ tác động đáng kể đến việc cho vay và nhận tài sản bảo đảm của ngân hàng.
Tìm hiểu thông tin doanh nghiệp vay
Để đảm bảo tuân thủ quy định về điều kiện cho vay do Ngân hàng Nhà nước ban hành, ngân hàng phải tìm hiểu xem liệu dự án đầu tư và phương án sản xuất, kinh doanh mà bên vay đề xuất có phù hợp với hoạt động kinh doanh mà bên vay đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh hay không.
Nếu trước đây, khi xem xét hồ sơ pháp lý của khách hàng, ngân hàng chỉ cần xem giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thì theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, ngân hàng bắt buộc phải (i) kiểm tra điều lệ do bên vay cung cấp (do ngành nghề kinh doanh không còn là một nội dung bắt buộc trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nữa); hoặc (ii) đề nghị cung cấp thông tin về nội dung đăng ký doanh nghiệp (do ngành, nghề kinh doanh là nội dung đăng ký kinh doanh mà doanh nghiệp bắt buộc phải công bố) thông qua Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp hoặc trực tiếp tại cơ quan đăng ký kinh doanh với điều kiện phải trả phí (điều 33 và 34).
Dễ nhận thấy cách tìm thông tin thứ hai đáng tin cậy hơn. Tuy nhiên, nó cũng sẽ khiến ngân hàng tốn thêm chi phí và thời gian, nhất là trong bối cảnh cho tới thời điểm hiện tại, do một số yếu tố mang tính kỹ thuật về hệ thống thanh toán phí, việc tìm thông tin qua Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp vẫn chưa thực sự hiệu quả.
Xác định thẩm quyền của người ký hợp đồng
Trong thực tế có khá nhiều hợp đồng tín dụng và bảo đảm bị tòa án tuyên bố vô hiệu do người ký hợp đồng không có thẩm quyền nhân danh doanh nghiệp vay. Điều 13, Luật Doanh nghiệp 2014 mở ra khả năng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được có nhiều người đại diện theo pháp luật với điều kiện điều lệ công ty phải quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật đó. Một câu hỏi đặt ra là trong trường hợp một trong số những người đại diện xác lập hợp đồng vay hay bảo đảm vượt quá phạm vi đại diện của mình thì sẽ dẫn tới hệ quả pháp lý nào?
Rất tiếc là Luật Doanh nghiệp 2014 chưa đưa ra được giải pháp cho vấn đề này. Về điểm này, pháp luật của Anh quy định vì lợi ích của mọi bên thứ ba giao dịch với một công ty một cách ngay tình, quyền hạn của các giám đốc (người đại diện) được nhân danh công ty (hoặc ủy quyền lại cho người khác hành động nhân danh công ty) được coi như không chịu bất cứ giới hạn nào theo các văn bản nội bộ của công ty. Nói cách khác, một bên giao dịch với công ty không có nghĩa vụ phải tìm hiểu việc giới hạn thẩm quyền của người đại diện trong điều lệ và được coi là hành động ngay tình trừ khi công ty có thể chứng minh được điều ngược lại. Hy vọng cách tiếp cận theo hướng bảo vệ bên thứ ba ngay tình này sẽ được ghi nhận trong các văn bản hướng dẫn áp dụng Luật Doanh nghiệp 2014 hay trong Bộ luật Dân sự sửa đổi.
Thông qua hợp đồng vay hay hợp đồng bảo đảm
Theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp 2014, một số hợp đồng vay có giá trị (tỷ lệ cụ thể được quy định trong điều lệ) của doanh nghiệp vay phải có sự đồng ý của hội đồng thành viên hay hội đồng quản trị của bên vay. Một cách rộng hơn, điều lệ có thể trao cho hội đồng thành viên hay hội đồng quản trị thẩm quyền phê chuẩn mọi hợp đồng vay và/hoặc hợp đồng bảo đảm. Khoản 3, điều 61 và khoản 1, điều 154 đều quy định chủ tọa và người ghi biên bản họp để thông qua hợp đồng - là những người ký tên trên biên bản - phải chịu trách nhiệm liên đới về tính trung thực và chính xác của nội dung biên bản họp.
Vấn đề đặt ra ở đây là nếu phát hiện nội dung biên bản thiếu chính xác hay gian dối, liệu hợp đồng vay có bị tác động (chẳng hạn vô hiệu) hay không? Liệu ngân hàng chỉ có thể khởi kiện người ghi biên bản và chủ tọa cuộc họp còn công ty hay các thành viên/cổ đông khác không phải chịu trách nhiệm gì đối với ngân hàng? Cần lưu ý khi hợp đồng vay vô hiệu, bên vay chỉ phải hoàn trả nợ gốc chứ không phải thanh toán tiền lãi cho ngân hàng. Một giải pháp mà ngân hàng có thể nghĩ tới là vẫn là yêu cầu biên bản họp hội đồng thành viên hay hội đồng quản trị phải có chữ ký của tất cả các thành viên dự họp hay đại diện theo ủy quyền của họ.
Hợp đồng có cần đóng dấu?
Điều 44 của Luật Doanh nghiệp 2014 trao cho doanh nghiệp toàn quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu cũng như việc quản lý và sử dụng con dấu trong điều lệ của mình. Điều này đồng nghĩa với việc điều lệ bên vay có thể quy định việc có phải đóng dấu hợp đồng giao dịch với bên thứ ba hay không và giá trị pháp lý của con dấu. Doanh nghiệp chỉ phải thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Như vậy, nếu như trước đây ngân hàng thường yêu cầu bên vay cung cấp giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu dấu còn thời hạn hiệu lực do cơ quan công an cấp, thì từ nay để biết chính xác xem con dấu có phải là của bên vay hay không và hệ quả pháp lý của việc đóng dấu thì ngân hàng lại phải tự mình tra cứu điều lệ của bên vay và tìm hiểu trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp hay tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Điều này sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến tiến độ xem xét hồ sơ pháp lý của bên vay.
Bảo đảm khoản vay bằng tài sản của bên thứ ba
Luật Doanh nghiệp 2014 quy định người quản lý doanh nghiệp (người đại diện theo pháp luật, giám đốc, chủ tịch hội đồng thành viên, thành viên hội đồng quản trị...) không được sử dụng tài sản của công ty để phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác (điều 14.1, 71.1 (b) và 160.1(c)). Quy định này không mới song điều đáng nói là điều 72 và 161 của văn bản này chính thức luật hóa việc khởi kiện trách nhiệm dân sự của người quản lý. Hệ quả dễ thấy là người quản lý công ty sẽ do dự hoặc không ký hợp đồng bảo đảm bằng tài sản của công ty để bảo đảm khoản vay cho một cá nhân hay tổ chức khác trừ trường hợp thành viên hay cổ đông công ty - những người có quyền khởi kiện - ra nghị quyết chấp thuận hợp đồng bảo đảm. Điều này có nguy cơ làm cho việc cho vay bảo đảm bằng tài sản của người thứ ba - vốn khá phổ biến trên thế giới nhưng lại gây khá nhiều tranh cãi trong thực tế ở Việt Nam trong thời gian vừa qua - sẽ trở nên mong manh hơn.
Tìm hiểu nội dung điều lệ
Như đã nêu ở trên, việc có được bản điều lệ cập nhật của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng khi xem xét hồ sơ pháp lý của bên vay trong khi rất nhiều nội dung của điều lệ mà ngân hàng cần biết lại không thuộc nội dung đăng ký doanh nghiệp phải được công bố.
Đối với công ty cổ phần, điều 171 quy định điều lệ được công bố trên trang thông tin điện tử (nếu có) của công ty. Tương tự, doanh nghiệp nhà nước phải công bố điều lệ trên trang thông tin điện tử của công ty và của cơ quan đại diện chủ sở hữu (điều 108). Tuy nhiên, do (i) không phải doanh nghiệp nào cũng có trang thông tin điện tử, (ii) các điều luật này không quy định rõ nghĩa vụ của doanh nghiệp phải công bố điều lệ cập nhật nhất, và (iii) doanh nghiệp có thể viện ra lỗi kỹ thuật về mạng để trốn tránh nghĩa vụ này, nên việc tìm kiếm thông tin điều lệ trên trang thông tin điện tử có thể sẽ không thực sự khả thi.
Luật Doanh nghiệp 2014 không cấm rõ ràng việc cơ quan đăng ký kinh doanh - là đơn vị quản lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp - được cung cấp điều lệ cho ngân hàng song do có thể có nhiều thông tin nhạy cảm trong điều lệ (như cơ chế chia lợi nhuận, việc phân bổ lỗ...) cần được bảo mật nên trong thực tế cơ quan đăng ký kinh doanh có thể sẽ từ chối đề nghị cung cấp điều lệ của doanh nghiệp. Nói cách khác, trong trường hợp này ngân hàng chỉ có thể trông đợi vào sự ngay tình của doanh nghiệp vay mà thôi.
                                                                                TS. Bùi Đức Giang, Giảng viên BankPro

UBND TP. Hồ Chí Minh: Thị trường Bất động sản có dấu hiệu hồi phục

19:21 |

Citi Home - một dự án phân khúc trung bình thu hút khách hàng trong nước và nước ngoài ở Quận 2

Thị trường bất động sản có dấu hiệu hồi phục nhất là phân khúc trung bình. Năm 2014, TP phát triển 8,3 triệu m² sàn xây dựng nhà ở, nâng diện tích nhà ở bình quân đầu người lên 16,9 m² /người.


Đây là một phần nội dung báo cáo do ông Hứa Ngọc Thuận – Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh trình bày trong phiên họp sáng ngày 9/12/2014, kỳ họp thứ 16, Hội đồng Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh khóa VIII về công tác quản lý và phát triển đô thị.

Thành phố đã công bố quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn 2025; triển khai thực hiện quy chế quản lý kiến trúc quy hoạch chung của TP theo đồ án quy hoạch chung làm cơ sở để cấp giấy phép xây dưng trên địa bàn TP.

Điều chỉnh quy hoạch hệ thống chợ siêu thị, trung tâm thương mại, khu hóa chất tại các quận huyện trên địa bàn TP đến năm 2015.

Tiếp tục triển khai Nghị quyết 02 của Chính phủ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2011 – 2015 của TP.

Xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính tại TP.

Năm 2014, Thành phố hoàn thành xây dựng 128 công trình đầu tư kết cấu hạ tầng từ  nguồn vốn ngân sách.

Tập trung giải quyết khó khăn, vướng mắc trong chính sách bồi thường, kêu gọi đầu tư, khẩn trương đẩy nhanh xây dựng chỉnh trang đô thị mới, khu đô thị vệ tinh, kết hợp tốt với các chương trình phát triên nhà ở tái định cư, nhà ở xã hội.

Năm 2014, TP phát triển 8,3 triệu m2 sàn xây dựng nhà ở, tính cả giai đoạn 2011 – 2014 TP đã phát triển được 32,8 triệu m2 sàn xây dựng nhà ở, nâng diện tích nhà ở bình quân đầu người lên 16,9m2/người. Thị trường bất động sản có dấu hiệu khôi phục nhất là phân khúc trung bình.

Theo cafef.vn 

VẬT QUYỀN BẢO ĐẢM TRONG DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ SỬA ĐỔI

19:15 |

Tóm tắt : Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi đã chính thức công nhận chế định vật quyền bảo đảm và có nhiều thay đổi lớn đổi lớn có thể tác động trực tiếp tới quyền của bên nhận bảo đảm. Tuy nhiên, Dự thảo chưa giải quyết được các khó khăn, vướng mắc đặt ra trong thực tế và có xu hướng làm giảm đáng kể hiệu quả của các biện pháp bảo đảm.
Abstract: The Draft Civil Code officially recognizes the concept of real security and contains significant changes to the current law which would be capable of directly affecting the rights of secured creditors. However, it does not really sort out all difficulties and obstacles arising in practice and tends to greatly decrease the efficiency of security.
******
Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo mới được công bố ngày 17 tháng 6 năm 2014 (Dự thảo) trong đó đã chính thức đưa khái niệm vật quyền bảo đảm vào trong phần quy định về giao dịch bảo đảm (điều 275 và các điều tiếp theo). Điều này đã dẫn tới các thay đổi căn bản trong việc phân loại giao dịch bảo đảm và có tác động đáng kể đến hiệu quả của các biện pháp bảo đảm.   Bài viết tập trung bình luận các quy định mới của Dự thảo về giao dịch bảo đảm, giới thiệu chế định vật quyền bảo đảm theo quy định của pháp luật Pháp – là một trong những nền pháp luật đang thừa nhận và cấu trúc quy định về bảo đảm dựa trên cách phân chia giao dịch bảo đảm thành các biện pháp bảo đảm đối nhân (sûretés personnelles) và các biện pháp bảo đảm đối vật (sûretés réelles) – và cách tiếp cận của pháp luật Anh để đi tới việc đánh giá tính khả thi của các quy định mới của Dự thảo.
1.     Khái niệm vật quyền và vật quyền bảo đảm
Phân biệt vật quyền và trái quyền – Các biện pháp bảo đảm đối vật (vật quyền bảo đảm) là một loại vật quyền (droits réels). Vật quyền được hiểu là quyền đưa lại cho người thụ hưởng một quyền lực trực tiếp và ngay lập tức đối với vật mà không cần có sự can thiệp của bên thứ ba. Chẳng hạn chủ sở hữu một căn nhà được ở hay cho thuê ngôi nhà đó mà không cần phải xin phép ai cả. Vật quyền được phân biệt với trái quyền hay quyền yêu cầu (droit personnel hay droit de créance) là quyền của người thụ hưởng được yêu cầu một người khác làm một việc nào đó cho mình. Vật quyền có ba đặc điểm chính. Thứ nhất nó có tính chất tuyệt đối, tức là có tính đối kháng đối với mọi chủ thể khác. Thứ hai nó trao cho người thụ hưởng quyền theo đuổi, tức là quyền được đòi lại vật thuộc về mình hay trên đó mình đã có quyền, dù vật này đang ở trong tay bất cứ ai. Thứ ba, vật quyền còn trao cho người thụ hưởng quyền ưu tiên thanh toán từ giá trị của vật. Các học giả thường chia vật quyền thành vật quyền chính (gồm quyền sở hữu, các quyền năng cấu thành quyền sở hữu và các vật quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của người khác như quyền đối với bất động sản liền kề) và vật quyền phụ (gồm vật quyền bảo đảm và các đặc quyền như đặc quyền của người lao động được ưu tiên thanh toán lương)[2]. Cũng trên cơ sở sự phân biệt giữa vật quyền và trái quyền, các biện pháp bảo đảm cũng được chia thành các biện pháp bảo đảm đối vật (vật quyền bảo đảm) và các biện pháp bảo đảm đối nhân. Một biện pháp bảo đảm đối nhân trao cho bên nhận bảo đảm một trái quyền đối với ít nhất một người khác bên có nghĩa vụ. Bảo lãnh là biện pháp bảo đảm đối nhân điển hình. Điều dễ thấy là cách phân loại này chỉ mang tính chất học thuật.
Khái niệm và tính chất vật quyền bảo đảm – Các văn bản pháp luật của Pháp không đưa ra định nghĩa về biện pháp bảo đảm đối vật (vật quyền bảo đảm). Các học giả coi biện pháp bảo đảm đối vật là “việc đưa một tài sản vào bảo đảm đối với chủ nợ và cho phép chủ nợ này có quyền ưu tiên thanh toán bằng giá trị của tài sản đó[3] hay là “quyền phụ thuộc vào nghĩa vụ được bảo đảm trao cho chủ nợ có bảo đảm quyền ưu tiên thanh toán từ giá trị của một hay một số tài sản bảo đảm dành cho chủ nợ này[4]. Như vậy có thể hiểu giao dịch bảo đảm đối vật là giao dịch bảo đảm bằng tài sản và trao cho chủ nợ có bảo đảm quyền ưu tiên thanh toán đối với tài sản đó và có mối quan hệ phụ thuộc vào nghĩa vụ được bảo đảm. Cho dù pháp luật thực định Việt Nam chưa chính thức có khái niệm này nhưng có thể thấy nó hoàn toàn không xa lạ đối với chúng ta : cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược và ký quỹ  là các biện pháp bảo đảm bằng tài sản về cơ bản thỏa mãn các đặc tính này.
Quan điểm truyền thống về các biện pháp bảo đảm đối vật ở Pháp nêu trên đang dần trở nên lỗi thời vì một số lý do sau đây :
·        Thứ nhất, gần đây pháp luật Pháp mới công nhận một số biện pháp bảo đảm trao cho chủ nợ có bảo đảm quyền độc quyền nhận thanh toán chứ không phải đơn thuần là quyền ưu tiên thanh toán. Chẳng hạn như việc chuyển giao quyền sở hữu quyền đòi nợ thương mại để đảm bảo khoản vay (cession de créances professionnelles par bordereau Dailly) hay mô hình ủy thác-bảo đảm (fiducie-sûreté) áp dụng với cả tài sản động sản lẫn bất động sản, hữu hình lẫn vô hình.
·        Thứ hai, nhà làm luật cũng đã thừa nhận việc biện pháp bảo đảm có thể không nhất thiết phải phụ thuộc vào nghĩa vụ được bảo đảm, tức là khi nghĩa vụ được bảo đảm chấm dứt thì biện pháp bảo đảm vẫn có thể tồn tại để bảo đảm cho các nghĩa vụ khác (như trong mô hình thế chấp tái sinh (hypothèque rechargeable) – điều 2422, Bộ luật dân sự hay ủy thác-bảo đảm tái sinh (fiducie-sûreté rechargeable) – điều 2372, Bộ luật dân sự)[5].
·        Thứ ba, khái niệm vật quyền bảo đảm không bao hàm được giao dịch bảo đảm đối với tài sản vô hình và đang gây ra khá nhiều trở ngại pháp lý trong thực tế, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Chẳng hạn điều 2328-1 của Bộ luật dân sự Pháp quy định, “mọi giao dịch bảo đảm đối vật có thể được xác lập, đăng ký, quản lý và xử lý vì lợi ích của các chủ nợ của nghĩa vụ được bảo đảm bởi một bên mà các chủ nợ này chỉ định vì mục đích này trong văn bản ghi nhận nghĩa vụ được bảo đảm”. Chế định này khá giống với chế định thành viên đầu mối nhận tài sản bảo đảm quy định tại thông tư số 42/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định về việc cấp tín dụng hợp vốn của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng[6]. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của điều 2328-1 của Bộ luật dân sự Pháp lại chính là ở chỗ quy định thành viên đầu mối về tài sản bảo đảm chỉ có thể xác lập, đăng ký và quản lý duy nhất các giao dịch bảo đảm đối vật. Nói cách khác thành viên đầu mối về tài sản bảo đảm không thể xác lập, đăng ký và quản lý các giao dịch bảo đảm đối với các tài sản vô hình, như đối với dòng nguồn thu, quyền đòi nợ hay quyền phát sinh từ hợp đồng – vốn là các giao dịch bảo đảm rất hiệu quả vì thủ tục xác lập khá đơn giản mà lại rất hiệu quả, kể cả trong thủ tục phá sản[7]. Nguyên nhân nằm ở chỗ các tài sản vô hình không thể là đối tượng của một giao dịch bảo đảm đối vật : “đối vật” có nghĩa là bằng tài sản hữu hình là vật, tồn tại về mặt vật chất và có thể chạm vào được chứ không thể là tài sản vô hình. Cho dù quyển IV của Bộ luật dân sự Pháp phân biệt các biện pháp bảo đảm đối vật (trong đó bao gồm cả biện pháp bảo đảm với tài sản vô hình) với các biện pháp bảo đảm đối nhân song cách tiếp cận này không rõ ràng, đặc biệt khi Bộ luật Tài chính và Tiền tệ của Pháp khi đề cập tới các biện pháp bảo đảm đối với quyền đòi nợ thương mại – là tài sản vô hình (điều L 313-23 và các điều tiếp theo) không hề đề cập tới tính chất đối vật hay không đối vật của biện pháp bảo đảm. Giới hoạt động thực tiễn cho rằng cách tiếp cận của Bộ luật Tài chính và Tiền tệ của Pháp là một cách tiếp cận thực dụng, phù hợp với tính chất của quyền đòi nợ là tài sản vô hình. 
Về khía cạnh này có thể thấy, nếu đưa khái niệm biện pháp bảo đảm đối vật vào trong pháp luật Việt Nam thì có vẻ sẽ có thuận lợi ở chỗ pháp luật Việt Nam hiện hành công nhận việc chủ nợ có bảo đảm có quyền ưu tiên thanh toán (điều 336 và điều 355, Bộ luật dân sự - BLDS). Tuy vậy, quyền ưu tiên thanh toán trong pháp luật Việt Nam khá khác biệt so với quyền ưu tiên thanh toán ở Pháp bởi khác với tên gọi, về bản chất nó có thể coi như là một quyền độc quyền được nhận thanh toán của chủ nợ có bảo đảm, giúp chủ nợ có bảo đảm có được vị trí ưu tiên tối ưu ngay cả trong thủ tục phá sản của bên bảo đảm[8]. Hơn nữa, cho dù điều 15, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 12 năm 2006 về giao dịch bảo đảm được bổ sung, sửa đổi năm 2012 (Nghị định 163) đặt ra nguyên tắc về tính phụ thuộc của giao dịch bảo đảm vào nghĩa vụ được bảo đảm song điều 8a của Nghị định này cho phép các bên có thể quy định một tài sản nhất định được dùng để bảo đảm toàn bộ khoản vay hiện có và mọi khoản vay khác hay mọi nghĩa vụ tài chính khác của bên bảo đảm phát sinh trong quan hệ trong tương lai giữa ngân hàng và bên bảo đảm. Nói cách khác, điều luật này đã đặt ra ngoại lệ đối với nguyên tắc phụ thuộc giữa giao dịch bảo đảm và nghĩa vụ được bảo đảm và đi theo mô hình all-monies security của Anh và là một cách tiếp cận tiến bộ. Như vậy, dường như trong sự tiến triển không ngừng của pháp luật về giao dịch bảo đảm, việc đưa khái niệm vật quyền bảo đảm vào trong pháp luật hiện hành sẽ gặp phải các khó khăn giống như Pháp đang gặp phải. Thêm vào đó, theo quy định tại điều 111, Dự thảo, tài sản gồm bốn loại là “vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Cần lưu ý, tiền ngày càng có xu hướng trở thành tiền điện tử do chính sách khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt, giấy tờ có giá cũng đang được dần số hóa và các quyền tài sản đương nhiên là các tài sản vô hình. Do vậy, có vẻ khái niệm “đối vật”, tức là áp dụng đối với vật – là một trong bốn loại tài sản  – đang dần trở nên không phù hợp với cả ba loại tài sản vừa nêu trong một thế giới mà các tài sản vô hình ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản của một doanh nghiệp.
Pháp luật Anh – Tại Anh là một nước có hệ thống quy định về giao dịch bảo đảm khá hiện đại và hiệu quả, khi phân loại các biện pháp bảo đảm, một số học giả cũng dùng khái niệm vật quyền (real right) và trái quyền (personal right), nhưng vật quyền được định nghĩa một cách đơn giản là “quyền liên quan đến một tài sản”[9]. Cách phân biệt này nhằm mục đích chia các giao dịch bảo đảm thành giao dịch bảo đảm đối với tài sản (gồm chuyển giao quyền sở hữu để bảo đảm (mortgage), thế chấp (charge), cầm cố (pledge) và cầm giữ (lien)) và giao dịch bảo đảm chỉ dựa trên cam kết cá nhân (bảo lãnh). Tuy vậy, thuật ngữ vật quyền (real right) đang dần được thay thế bởi một thuận ngữ hiện đại hơn là quyền đối với tài sản (proprietary right), được hiểu là quyền mà một người có đối với tài sản và có tính đối kháng với nhiều người khác nói chung chứ không chỉ đối với mỗi người trao quyền[10]. Nếu một quyền không phải là quyền đối với tài sản thì sẽ là trái quyền (personal right). Với cách tiếp cận này, các biện pháp bảo đảm chỉ gồm chuyển giao quyền sở hữu để bảo đảm, thế chấp, cầm cố và cầm giữ là các biện pháp bảo đảm trao cho bên nhận bảo đảm một quyền tài sản đối với một tài sản nhất định. Như vậy, do bảo lãnh chỉ là trái quyền nên không phải là một biện pháp bảo đảm mà nó cùng với bù trừ nghĩa vụ là các biện pháp có thể thay thế cho biện pháp bảo đảm (alternatives to security)[11]. Nhìn một cách tổng thể, chế định vật quyền có chăng chỉ là một cách để phân loại biện pháp bảo đảm mà thôi và cũng đang dần bị thay thế bởi chế định quyền đối với tài sản.
Hướng tiếp cận của Dự thảo – Khái niệm “biện pháp bảo đảm” và “giao dịch bảo đảm” vốn khá dễ hiểu đã được Dự thảo thay thế bằng khái niệm “vật quyền bảo đảm”. Dự thảo đã đặt quy định về vật quyền bảo đảm (gồm quyền cầm cố, quyền thế chấp, quyền cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu) và quy định về các biện pháp bảo đảm khác (đặt cọc, ký cược, ký quỹ và bảo lãnh) trong hai phần quy định khác nhau. Có thể hiểu vật quyền bảo đảm trước hết là quyền nên người viết Dự thảo cố gắng biến giao dịch cầm cố và thế chấp thành các quyền để tương thích với cách phân loại này. Tuy vậy, cách đặt tên “quyền cầm cố”, “quyền thế chấp” dễ gây nhầm lẫn và có xu hướng nôm na hóa khái niệm pháp lý. Hơn nữa cách phân chia biện pháp bảo đảm vừa nêu của Dự thảo khá gượng ép bởi (i) đây đều là các biện pháp bảo đảm chỉ có điều bảo lãnh dựa trên cam kết cá nhân thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm trong khi các biện pháp bảo đảm còn lại là các biện pháp bảo đảm bằng tài sản, (ii) đặt cọc, ký cược và ký quỹ thực chất chỉ là các biến thể của cầm cố nên phải được đưa vào phần các biện pháp bảo đảm bằng tài sản chứ không thể ghép với bảo lãnh và (iii) cầm cố và thế chấp thực chất là các giao dịch giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm trong khi quyền dù là quyền cầm cố hay quyền thế chấp chỉ là quyền của một bên, điều này dẫn tới sự vênh giữa tên điều luật và nội dung của các điều luật khi Dự thảo định nghĩa và quy định về xác lập các giao dịch bảo đảm này (điều 276, 283, 284, 293, 294 và 295).
2.     Các quyền năng chính gắn với vật quyền bảo đảm
Tổng quan – Do bảo đảm đối vật trao cho bên thụ hưởng biện pháp này một vật quyền cho nên nó sẽ được áp dụng quy định về chế định vật quyền. Chế định này trao cho người có vật quyền hai quyền năng chính là quyền ưu tiên thanh toán (droit de préference) và quyền theo đuổi (droit de suite, following right).
Quyền ưu tiên thanh toán – Ở Pháp, cho dù một số học giả cố gắng coi quyền độc quyền nhận thanh toán là một loại quyền ưu tiên thanh toán[12], song có vẻ cách tiếp cận này khá gượng ép. Thực vật, về bản chất quyền ưu tiên thanh toán chỉ cho phép chủ nợ có bảo đảm có quyền ưu tiên thanh toán trước các chủ nợ không có bảo đảm mà thôi. Nếu cùng một tài sản được sử dụng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ khác nhau hay khi có các đặc quyền khác (privilèges) đối với tài sản thì quyền ưu tiên thanh toán của từng chủ nợ được xác định theo thứ tự ưu tiên theo các quy định nhất định mà pháp luật đặt ra[13]. Việc đưa vật quyền bảo đảm vào trong pháp luật Việt Nam kéo theo việc sẽ phải thay đổi lại tính chất của quyền ưu tiên thanh toán, tức là làm cho chủ nợ có bảo đảm có ít quyền hơn, ít ra là trong quan hệ giữa các chủ nợ có bảo đảm hay có đặc quyền với nhau. Đây chính là một bước lùi đáng tiếc trong việc sửa đổi quy định pháp luật bởi giao dịch bảo đảm ra đời là để giúp các ngân hàng có cơ sở xác lập niềm tin (tín dụng) vào bên đi vay và xu hướng phát triển của giao dịch bảo đảm phải là tăng cường quyền của bên nhận bảo đảm với điều kiện tôn trọng nguyên tắc cấm được lợi mà không có căn cứ pháp luật.
Quyền truy đòi – Theo quy định của pháp luật Pháp, quyền ưu tiên thanh toán chỉ phát huy tác dụng khi tài sản còn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Tuy vậy cũng có trường hợp, bên bảo đảm đã chuyển nhượng tài sản này cho một bên thứ ba. Pháp luật Pháp cho phép bên thế chấp được quyền định đoạt tài sản thế chấp trong quá trình thế chấp và để đảm bảo lợi ích của bên nhận thế chấp, bên nhận thế chấp có quyền truy đòi tài sản thế chấp để thực hiện quyền ưu tiên thanh toán của mình. Bên mua tài sản thường chủ động thanh toán giá bán tài sản cho bên nhận thế chấp hay thực hiện việc ký quỹ giá bán để tránh chịu hậu quả trong trường hợp bên nhận thế chấp thực hiện quyền truy đòi[14].
Ngoài thế chấp, quyền truy đòi là quyền năng của bên thụ hưởng đặc quyền (privilège) và cầm cố không chuyển giao tài sản (gage sans dépossession) như cầm cố ô tô (điều 2351 đến điều 2354, Bộ luật dân sự Pháp). Đối với cầm cố có chuyển giao tài sản, do tài sản bảo đảm được chuyển giao cho bên bảo đảm, nên không đặt ra vấn đề quyền truy đòi.
Cũng cần lưu ý quyền truy đòi chỉ được áp dụng đối với trường hợp tài sản hữu hình. Pháp luật các nước theo chế độ vật quyền có hạn chế chung là chưa tính đến việc tìm ra một đặc quyền tương tự áp dụng cho các tài sản vô hình mà pháp luật Việt Nam gọi là quyền tài sản. Pháp luật các nước theo hệ thống thông luật sử dụng cơ chế quyền truy dấu tích (tracing right) là kỹ thuật pháp lý được sử dụng để thiết lập việc giá trị tài sản mà bên bảo đảm đã nhận được từ bên thứ ba có thể được coi như là kết quả của giá trị tài sản do bên nhận bảo đảm nắm giữ khi tài sản đó còn chưa bị định đoạt[15].
Nhìn vào Dự thảo, có hai điểm chính cần lưu ý. Thứ nhất, do cầm cố được hiểu là việc giao tài sản cho chủ nợ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của chính mình hay của người khác (điều 283), nên quyền truy đòi không phải là công cụ pháp lý mà bên nhận cầm cố cần để bảo vệ quyền lợi của mình. Thực vậy, do cầm cố chủ yếu áp dụng đối với các động sản (ví dụ hàng hóa), mà theo quy định tại khoản 2, điều 177, thông thường “việc chuyển quyền sở hữu và các vật quyền khác đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao” cho nên nếu bên nhận cầm cố không giao vật (tức là không đồng ý việc bán tài sản cầm cố – phương án 2 nêu tại khoản 2 điều 289 của Dự thảo) thì không thể thực hiện được việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản. Điều đáng tiếc ở đây là khoản 2 điều 289 của Dự thảo đang cân nhắc một giải pháp nữa là bên cầm cố “được bán tài sản cầm cố nhưng phải thông báo cho bên mua biết về việc tài sản đang được cầm cố”. Dường như người viết Dự thảo muốn trao cho bên nhận cầm cố quyền truy đòi. Điều này đi ngược lại với bản chất pháp lý của cầm cố như vừa phân tích.
Thứ hai, ngoài việc được thay thế tài sản thế chấp, khoản 3, điều 297 và khoản 3, điều 299 còn trao cho bên thế chấp quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho mượn tài sản thế chấp mà không cần có sự đồng ý của bên nhận thế chấp và trao cho bên nhận thế chấp quyền truy đòi tài sản thế chấp từ bên kia của các giao dịch này khi xử lý tài sản thế chấp. Có thể hiểu trong tư duy của người viết Dự thảo thì vật quyền bảo đảm trao cho bên nhận thế chấp quyền truy đòi nên khi phải xử lý tài sản bảo đảm bên nhận thế chấp có thể thu hồi tài sản thế chấp dù tài sản này đang ở trong tay bất cứ ai. Tuy vậy, quy định này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của chủ nợ có bảo đảm và cần phải được cân nhắc kỹ trước khi thông qua bởi nhiều lý do. Khó khăn dễ thấy sẽ đặt ra đối với bên nhận thế chấp là phải tìm hiểu chuỗi quan hệ pháp lý đối với tài sản thế chấp bởi vì một tài sản có thể được chuyển giao thông qua nhiều hợp đồng mua, bán khác nhau, liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau và để xác định chính xác các mối quan hệ này, cần thời gian và chi phí. Hệ quả là ngân hàng phải tính chi phí vay cao hơn để bù đắp các chi phí này. Hơn nữa, điều 297 của Dự thảo trao cho bên thế chấp rất nhiều quyền năng đối với tài sản được thế chấp, như được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi lợi tức từ tài sản thế chấp hay được đầu tư vào tài sản thế chấp (tài sản thế chấp không phải chuyển giao cho bên nhận thế chấp). Bên thế chấp còn có thể sử dụng một tài sản để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ đối với cùng một hay nhiều chủ nợ khác nhau (điều 278). Thêm vào đó, khi đưa tài sản vào bảo đảm khoản vay, bên thế chấp đã khai thác giá trị của tài sản : ngân hàng chỉ cho vay hay cho vay với mức lãi suất hợp lý khi có tài sản thế chấp. Vì các lý do đó nên một cách khách quan cần phải thấy các quy định này trao cho bên thế chấp quyền khai thác giá trị kinh tế của tài sản thế chấp. Quy định cấm cấm bên thế chấp không được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp nếu không được bên nhận thế chấp đồng ý, trừ trường hợp tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh nêu tại khoản 4, điều 348, khoản 3 và khoản 4 điều 349 của BLDS như hiện nay giúp bảo vệ chủ nợ có bảo đảm, tránh mất đối tượng của hợp đồng thế chấp và cân bằng lợi ích thương mại giữa các bên. Thêm vào đó, trong thực tế cần lưu ý các ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn trong trường hợp nhận tài sản bảo đảm là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhất là khi bên bảo đảm không ngay tình hay lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Giải pháp bỏ việc cấm bên thế chấp không được định đoạt tài sản thế chấp chỉ khả thi nếu pháp luật công nhận một số biện pháp bảo đảm mới đặt ra điều kiện việc định đoạt tài sản bảo đảm phải được sự đồng ý của chủ nợ có bảo đảm, qua đó tạo điều kiện cho bên nhận thế chấp có nhiều sự lựa chọn. Pháp luật Anh là một ví dụ. Biện pháp thế chấp (charges) của Anh gồm hai dạng là (i) thế chấp thả nổi (floating charge) thường có đối tượng là tập hợp tài sản có tính chất luân chuyển của doanh nghiệp (như nguyên nhiên liệu, hàng tồn kho hay quyền đòi nợ), cho phép bên thế chấp được định đoạt tài sản bảo đảm và (ii) thế chấp cố định (fixed charge) thường được sử dụng với các tài sản cố định như đất đai, công trình xây dựng, nhà máy, v.v…và bên thế chấp không được định đoạt tài sản bảo đảm khi chưa được bên nhận thế chấp đồng ý. Bên cạnh đó, chuyển giao quyền sở hữu tài sản để bảo đảm (mortgage) cũng là một biện pháp bảo đảm truyền thống tại Anh. Với biện pháp bảo đảm này, quyền sở hữu tài sản được chuyển giao tạm thời cho bên nhận bảo đảm (do vậy bên bảo đảm không có quyền bán tài sản bảo đảm cho một bên thứ ba) và bên bảo đảm có quyền nhận lại tài sản khi thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm (equity of redemption). Tuy nhiên cũng cần lưu ý là đối với bất động sản, các giao dịch bảo đảm ở Anh thường được ký kết theo hướng cấm không cho bên bảo đảm được định đoạt tài sản bảo đảm trong quá trình hợp đồng bảo đảm có hiệu lực. Về điểm này cần lưu ý, trong xu hướng hội nhập, pháp luật Pháp đang từng bước công nhận các biện pháp bảo đảm gắn với việc chuyển giao quyền sở hữu như ủy thác bảo đảm (fiducie-sûreté), tức là công nhận bên bảo đảm không được quyền định đoạt tài sản bảo đảm.
Thu giữ tài sản bảo đảm – Trong quá trình tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, việc thu giữ tài sản bảo đảm khi bên thế chấp không giao tài sản để xử lý gặp khá nhiều khó khăn cho dù khoản 5, điều 63, Nghị định 163 quy định khả năng bên nhận thế chấp được nhờ sự giúp đỡ của các cơ quan công quyền trong việc thu giữ tài sản bảo đảm. Trong thực tế, nếu như việc nhờ các cơ quan công quyền không hiệu quả, ngân hàng có thể khởi kiện bên bảo đảm ra Tòa án để Tòa án ra quyết định thu giữ tài sản bảo đảm sau đó nhờ cơ quan thi hành án thực hiện việc cưỡng chế. Quá trình này có thể kéo dài tới 1, 2 năm và gây không ít khó khăn và chi phí cho các ngân hàng. Để khắc phục tình trạng này, pháp luật có thể quy định nếu giao dịch bảo đảm đã công chứng hay chứng thực hợp pháp và/hoặc được đăng ký hợp lệ với cơ quan có thẩm quyền, khi bên bảo đảm không hợp tác trong việc xử lý tài sản bảo đảm, (i) bên nhận bảo đảm có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định cưỡng chế thu giữ tài sản bảo đảm theo thủ tục rút gọn để trên cơ sở đó, bên nhận bảo đảm có thể yêu cầu cơ quan thi hành án thực hiện việc cưỡng chế thu hồi tài sản bảo đảm để xử lý hoặc (ii) bên nhận bảo đảm có thể yêu cầu trực tiếp cơ quan thi hành án cưỡng chế thu hồi tài sản bảo đảm để xử lý.
Tuy nhiên, cả hai giải pháp này không có mối liên hệ trực tiếp nào với chế định vật quyền bảo đảm, mà chỉ đơn thuần gắn với việc sửa đổi quy định pháp luật về tố tụng dân sự và pháp luật thi hành án. Ở Pháp, sở dĩ chủ nợ có bảo đảm có thể thực hiện việc cưỡng chế thu giữ tài sản bảo đảm thông qua thừa phát lại (tương đương với chức danh thi hành án ở Việt Nam) là bởi vì khoản 4, điều L111-3, Bộ luật thi hành án dân sự, quy định văn bản công chứng (ví dụ hợp đồng bảo đảm) có nêu cụm từ “được thi hành” là một trong số các văn bản có thể cho phép tiến hành cưỡng chế thi hành. Thực ra thiện chí hợp tác của bên có nghĩa vụ không phải là vấn đề riêng của giao dịch bảo đảm mà là của mọi giao dịch thương mại nói chung. Tại Anh, trong thực tế các chủ nợ có bảo đảm không gặp khó khăn trong việc thu giữ tài sản bảo đảm cho nên pháp luật Anh không có quy định đặc biệt nào về việc cưỡng chế thu giữ tài sản bảo đảm. Về nguyên tắc, bên bảo đảm sẽ có nghĩa vụ do pháp luật quy định phải giao tài sản cho chủ nợ có bảo đảm để xử lý và trong thực tế tại Anh thông thường bên bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ này.
3.     Nhìn từ thực tế
Nhu cầu sửa đổi quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm là có thực vì nhìn tổng thể còn khá nhiều vấn đề đặt ra trong hệ thống các quy định hiện hành. Đổi mới quy định về giao dịch bảo đảm nên đi theo hướng đa dạng hóa và tăng cường hiệu quả của các biện pháp bảo đảm mà vẫn đảm bảo được nguyên tắc chủ nợ có bảo đảm không được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật. Điều đáng buồn là Dự thảo vẫn chưa đáp ứng được mong đợi từ thực tế và có vẻ chỉ tập trung vào các vấn đề mang tính học thuật đơn thuần. Thiết nghĩ, trong quá trình bổ sung, sửa đổi quy định về giao dịch bảo đảm của Bộ luật dân sự, có thể xem xét một số vấn đề sau đây :
·        Hoàn thiện các quy định về thế chấp tài sản vô hình như quyền đòi nợ, quyền phát sinh từ hợp đồng, quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, số dư tài khoản hay phần vốn góp mà hiện nay khung pháp lý còn khá sơ sài.
·        Xác định rõ các điều kiện xác lập và xử lý giao dịch thế chấp hàng tồn kho/hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn là nỗi “ám ảnh” thường trực của các ngân hàng là chủ nợ có bảo đảm.
·        Xác định rõ loại giấy tờ có giá nào có thể là đối tượng của giao dịch cầm cố và loại giấy tờ có giá nào có thể trở thành đối tượng của giao dịch thế chấp và hoàn thiện quy định về giao dịch bảo đảm đối với mỗi loại giấy tờ có giá vì quy định hiện nay chưa thực sự rõ ràng.
·        Xác định rõ quyền của bên bảo lãnh được bồi hoàn và quyền được thế quyền bên nhận bảo lãnh sau khi đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và bổ sung cơ chế bảo vệ bên bảo lãnh đặc biệt là khi bên bảo lãnh là cá nhân – vốn là các mảng tối của pháp luật về bảo lãnh.
·        Chỉ rõ mối quan hệ giữa đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan quản lý chuyên ngành và đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền trong trường hợp giao dịch bảo đảm đối với chứng khoán và quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán của chủ nợ có bảo đảm.
·        Bổ sung biện pháp chuyển giao quyền sở hữu tài sản để bảo đảm (mortgage) nhằm khai thác chức năng bảo đảm của quyền sở hữu và tăng cường hiệu quả của biện pháp bảo đảm cũng như đưa pháp luật Việt Nam tiến gần hơn với quy định của các nền pháp luật tiên tiến trên thế giới.
·        Kiến nghị sửa đổi quy định của pháp luật về thi hành án để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc cưỡng chế thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý.
·        Tập trung các quy định về giao dịch bảo đảm trong BLDS, hạn chế việc các văn bản dưới luật mở rộng hay thu hẹp một cách bất hợp lý các quy định gốc của BLDS.

******



[1] Tác giả xin cảm ơn luật sư Richard Calnan, công ty luật Norton Rose Fulbright (London) và TS., LS. Franck Julien, Ngân hàng CREDIT AGRICOLE CORPORATE & INVESTMENT BANK (Paris) về các nhận xét và gợi ý liên quan đến pháp luật Anh và Pháp được đề cập trong bài viết.
[2] Terré (F.) et Simler (Ph.), Droit Civil, Droit des biens, 8è éd, Dalloz, 2010, no 47.
[3] Legeais (D.), Sûretés et garanties du crédit, 9è éd, LGDJ, 2013, no384.
[4] Cabrillac (M.), Mouly (Ch.), Cabrillac (S.) et Pétel (P.), Droit des sûretés, 9è éd., Litec, 2010, no 567.
[5] Aynès (L.) et Crocq (P.), Les sûretés, la publicité foncière, 6è éd, Defrénois, 2012, no 400.
[6] Điều đáng tiếc là thông tư này vẫn coi chế định thành viên đầu mối nhận tài sản bảo đảm chỉ là một dạng ủy quyền hay rộng hơn là đại diện trong khi về bản chất đây là một dạng ủy thác (trust).
[7] Khác với pháp luật Việt Nam và pháp luật Anh, hiệu quả của nhiều giao dịch bảo đảm của Pháp đang bị tác động theo chiều hướng tiêu cực bởi pháp luật phá sản.
[8] Xem thêm, ThS. Bùi Đức Giang, “Quyền ưu tiên thanh toán của bên nhận thế chấp quyền đòi nợ”, Tạp chí Ngân hàng, số 17 tháng 9/2012.
[9] Gullifer (L.) (ed), Goode on Legal Problems of Credit and Security, Sweet & Maxwell, 4th edn, 2008, paras. 1-06 and 107 and 1-17 and seq.
[10] Xem them Calnan (R.), Proprietary Rights and Insolvency, Oxford University Press, 2010.
[11] Calnan (R.), Taking security – Law and Practice, Jordans, 2nd edn, 2011.
[12] Legeais (D.), Sûretés et garanties du crédit, sách đã dẫn, no385.
[13] Aynès (L.) et Crocq (P.), Les sûretés, la publicité foncière, sách đã dẫn, no 401.
[14] Như trên, no 682.
[15] Louise Gullifer (ed), Goode on Legal Problems of Credit and Security, sách đã dẫn, para.1-60. Xem thêm Lionel Smith, The Law of Tracing, Clarendon Press Oxford, 1997,Marcus Smith, “The vindication of an owner’s rights to intangible property”, Journal of International Banking and Financial Law, volume 28, issue 7, August 2013 và Marcus Smith and Nico Leslie, The law of assignment: The creation and transfer of choses in action, Oxford University Press, 2nd edn. (2013), chs. 26 to 31.

TS. Bùi Đức Giang, Công ty Luật Audier and Partners Vietnam LLC

Tác động của thủ tục phá sản tới người lao động theo quy định mới

19:11 |

Việc mở thủ tục phá sản gây lo ngại đáng kể cho tất cả các bên liên quan, đặc biệt là người lao động. Bởi vì, người lao động có thể mất việc hay không thể đòi chủ sử dụng lao động các khoản nợ phát sinh theo hợp đồng lao động hay theo quy định của pháp luật. Luật phá sản số 51/2014/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2014 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2015 có một số quy định riêng điều chỉnh tác động của thủ tục phá sản đối với người lao động làm việc trong các tổ chức tín dụng. Các quy đinh này được bổ sung bằng các nguyên tắc chung áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp.
1.      Nguyên tắc chung
Các thủ tục phá sản – Thủ tục phá sản quy định trong Luật Phá sản 2014 (LPS 2014), bao gồm hai thủ tục chính là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và thủ tục tuyên bố phá sản. Đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán[1], không nhất thiết phải thực hiện lần lượt hai thủ tục này để được phá sản. Thủ tục mở thủ tục phá sản (điều 42 và các điều tiếp theo) là bước đệm cho việc mở các thủ tục này. Nhìn chung, các quy định mới linh hoạt hơn và có tính ứng dụng cao hơn so với Luật phá sản 2004, mở ra nhiều cánh cửa hơn cho doanh nghiệp để rút khỏi thị trường một cách hợp pháp[2].
Thực hiện quyền của người lao động trong thủ tục phá sản – So với Luật phá sản 2004, Luật phá sản 2014 tăng cường hơn quyền lợi của người lao động trong thủ tục phá sản. Thực vậy, theo quy định tại khoản 2, điều 5, người lao động có quyền trực tiếp nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp là chủ sử dụng lao động khi hết thời hạn ba tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đối với người lao động mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án tiến hành thủ tục phá sản có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động (điểm h, khoản 1, điều 70). Thêm vào đó, dù về nguyên tắc việc thi hành án dân sự về tài sản mà doanh nghiệp là người phải thi hành án bị tạm hoãn sau khi Tòa án thụ lý vụ việc phá sản, song nếu bản án hay quyết định của Tòa án buộc doanh nghiệp phải trả lương cho người lao động thì doanh nghiệp vẫn phải thi hành chứ không được hưởng việc tạm hoãn (khoản 1, điều 41). Khoản 2, điều 77 quy định đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động uỷ quyền được tham gia hội nghị chủ nợ như chủ nợ. Điều này có nghĩa là người lao động không được trực tiếp tham gia Hội nghị chủ nợ. Đây cũng là cách tiếp cận của Luật phá sản 2004 (khoản 2, điều 62), chỉ có điều nếu như văn bản này giải thích cụ thể cơ chế cử đại diện cho người lao động tại khoản 1 điều 14 thì LPS 2014 không có quy định tương tự. Đây là một điểm khuyết mà các văn bản hướng dẫn thi hành LPS 2014 cần làm rõ. Cũng cần lưu ý sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, việc người lao động khởi kiện doanh nghiệp bị tạm đình chỉ. Tòa án thụ lý đơn khởi kiện phải chuyển hồ sơ cho Tòa án đang tiến hành thủ tục phá sản để giải quyết ngay sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản. Nếu thắng kiện, người lao động chỉ được thanh toán khi thanh lý tài sản của chủ dụng lao động (khoản 2, điều 41, khoản 2, điều 71 và điểm a, khoản 2, điều 72).
Số phận các hợp đồng lao động – Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, về nguyên tắc doanh nghiệp vẫn hoạt động bình thường (khoản 1, điều 47, LPS 2014), tức là hợp đồng với người lao động vẫn được duy trì. Doanh nghiệp vẫn được trả lương cho người lao động nhưng phải được sự đồng ý của quản tài viên hoặc của doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (điểm c, khoản 1, điều 49).
Doanh nghiệp có thể được áp dụng phục hồi hoạt động kinh doanh  hoặc thủ tục tuyên bố phá sản. Về lý thuyết thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh tạo ra một cơ chế cho việc duy trì hoặc tổ chức lại hoạt động doanh nghiệp có khả năng phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ đó tạo ra nguồn thu để thanh toán cho các chủ nợ. Kể từ ngày triển khai thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp không phải xin phép quản tài viên hoặc của doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản khi trả lương cho người lao động (khoản 1, điều 92).
Một câu hỏi đặt ra là liệu người lao động có thể hy vọng thủ tục này sẽ là lối thoát giúp họ tránh được tình trạng mất việc? Cần phải thấy việc có triển khai thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hay không hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của các chủ nợ và ngay cả trong trường hợp phương án phục hồi hoạt động kinh doanh được thực hiện thì cũng không có gì bảo đảm doanh nghiệp sẽ khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán. Điều đáng buồn trong thực tế là việc mở thủ tục phá sản thường đồng nghĩa với việc tìm ra cách thức tốt nhất để chia sẻ tổn thất tài chính chứ không phải là triển vọng phục hồi được hoạt động kinh doanh.
Theo quy định tại khoản 7, điều 36, Bộ luật lao động, khi một doanh nghiệp chấm dứt hoạt động thì hợp đồng lao động của người lao động ký với doanh nghiệp này đương nhiên chấm dứt. Việc tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản đồng nghĩa với việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp phá sản. Chính vì thế quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản phải nêu nội dung chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động và giải quyết quyền lợi của người lao động (điểm đ, khoản 1, điều 108, LPS 2014). Nói cách khác, khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, tất cả các hợp đồng lao động ký với doanh nghiệp này sẽ chấm dứt.
Khi thanh lý tài sản, cùng với các khoản nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các khoản nợ người lao động của doanh nghiệp (nợ lương, trợ cấp thôi việc, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký) đứng thứ ba trong thứ tự ưu tiên thanh toán  lần lượt sau chi phí phá sản và chủ nợ có bảo đảm[3] và có thứ tự ưu tiên thanh toán cao hơn các khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản, các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và các khoản nợ không có bảo đảm. Cho dù đây là một vị trí ưu tiên thanh toán khá tốt song cần lưu ý là nguy cơ đặt ra ở đây là doanh nghiệp không còn tài sản nào sau khi thanh toán hết các chủ nợ có bảo đảm và/hoặc chi phí phá sản.
2.      Tác động của phá sản tổ chức tín dụng
Thủ tục phá sản tổ chức tín dụng Việc phá sản các tổ chức tín dụng đã được luật hóa tại các điều từ 97 cho tới điều 104, LPS 2014.  Về nguyên tắc, những nội dung không quy định tại các điều này thì sẽ được điều chỉnh bởi các quy định tương ứng của LPS 2014. Tuy nhiên, các quy định của LPS 2014 về Hội nghị chủ nợ (chương VI) và về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh (chương VII) sẽ không được áp dụng trong trường hợp phá sản tổ chức tín dụng (điều 97).  Lý do nằm ở chỗ Luật các tổ chức tín dụng đã quy định về biện pháp kiểm soát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước áp dụng đối với tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả hay mất khả năng thanh toán (điều 145 đến điều 152).
Tòa án chỉ thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận được văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán (điều 99, LPS 2014).
Quy định về lao động Liên quan đến vấn đề lao động, LPS 2014 chỉ quy định riêng về quyền của người lao động được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng và thứ tự phân chia tài sản khi thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng sau khi đã có quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản. Điều đó có nghĩa là đối với các khía cạnh khác, các nguyên tắc chung nêu trên sẽ được áp dụng.
Theo quy định tại điều 98, LPS 2014, chỉ sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán thì người lao động (chưa được thanh toán lương hay khoản nợ khác khi hết thời hạn ba tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán) mới được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Mặt khác, khi đọc kết hợp các điều 100, 101 và 53, LPS 2014 với khoản 2, điều 151, Luật các tổ chức tín dụng, có thể thấy các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể (i) đứng sau chi phí phá sản, khoản nợ có bảo đảm và khoản vay đặc biệt mà Ngân hàng Nhà nước hay tổ chức tín dụng khác đã cấp cho tổ chức tín dụng được áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt và (ii) có thứ tự ưu tiên thanh toán cao hơn khoản tiền gửi, khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng phá sản, nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và khoản nợ không có bảo đảm.
Có thể thấy LPS 2014 đã quy định khá cụ thể các khía cạnh khác nhau liên quan đến tác động của thủ tục phá sản đối với người lao động. Người lao động làm việc trong ngân hàng cũng như trong các doanh nghiệp khác cần chủ động theo dõi quá trình mở thủ tục phá sản để thực hiện các quyền lợi của mình.

******



[1]  Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán “khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn ba tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” (khoản 1, điều 4).
[2] Xem thêm T.S Bùi Đức Giang, “Một số điểm mới của Luật phá sản 2014 nhìn từ góc độ thực tiễn”, Tạp chí Ngân hàng, số 15, tháng 8 năm 2014.


[3] Xem thêm TS. Bùi Đức Giang, “Xử lý tài sản bảo đảm trong thủ tục phá sản”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 41-2014 (1.243), 9 tháng 10 năm 2014.

TS. Bùi Đức Giang, Giảng viên BankPro
BankPro. Được tạo bởi Blogger.

Giới thiệu